Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam chúng ta luôn tự hào là một quốc gia có bề dày văn hiến, có nền văn hóa đa dạng, với kho tàng di sản cổ vật vô cùng phong phú... Nhưng chiến tranh cùng những biến động, thăng trầm của lịch sử đã phá hủy và mang đi của chúng ta rất nhiều di sản, cổ vật và tư liệu lịch sử quý giá, trong đó có khối lượng rất lớn thuộc loại hình di sản cổ vật đặc biệt. Hiện nay, đa phần những loại hình cổ vật đó chưa được hồi hương, chúng được trưng bày trong nhiều bảo tàng lớn, sưu tập tư nhân hoặc trong tay những nhà buôn bán cổ vật trên thế giới, thỉnh thoảng xuất hiện trên sàn đấu giá quốc tế.
Gần đây, sau nhiều thăng trầm, đã có một số cổ vật Việt Nam tìm thấy con đường trở về cố quốc.
Năm 2023 khép lại bằng một sự kiện vui cho ngành văn hóa và những người yêu di sản văn hóa, cổ vật Việt Nam khi kim ấn “Hoàng đế chi bảo” của triều Nguyễn chính thức trở về “cố hương” sau 70 năm lưu lạc ở xứ người…
Đầu năm 2024 được đánh dấu bởi sự kiện tượng đồng Nữ thần Durga thuộc văn hóa Champa được Bộ An ninh nội địa Mỹ trao trả cho Việt Nam và đã về đến sân bay Nội Bài (Hà Nội) sau gần 15 năm bị buôn bán trái phép ra nước ngoài…
Đây là những tín hiệu tích cực, dấu ấn quan trọng của toàn ngành văn hóa nói chung và lĩnh vực di sản, cổ vật nói riêng, thu hút sự quan tâm của công chúng trong và ngoài nước. Những sự kiện này không chỉ khẳng định giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, chính trị gắn liền với các bảo vật, mà còn bởi việc hồi hương thành công ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” và tượng đồng Nữ thần Durga sau hơn một năm đàm phán là kết quả của cả quá trình nỗ lực, chủ động, quyết tâm hồi hương di sản về nước bằng con đường ngoại giao văn hóa, với sự chỉ đạo kịp thời từ Chính phủ, sự phối hợp nhịp nhàng, khẩn trương của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Qua đó, khẳng định với thế giới về quyết tâm của Việt Nam trong công tác bảo tồn, gìn giữ, phát huy các giá trị di sản dân tộc, góp phần nâng cao vị thế đất nước trên cơ sở bảo đảm tính toàn vẹn của di sản văn hóa.
Tượng đồng Nữ thần Durga
Từ những kết quả tích cực bước đầu, đã hé mở những con đường và phương thức, hình thức hồi hương cổ vật mà chúng ta còn trăn trở, lần tìm bấy lâu. Đây là cơ sở thực tiễn để chúng ta kịp thời xây dựng, bổ sung, cập nhật những cơ chế, chính sách phù hợp cho việc hồi hương cổ vật Việt Nam đạt hiệu quả tích cực hơn nữa trong thời gian tới khi nội dung Luật Di sản văn hóa sửa đổi đang được tích cực hoàn thiện.
1. Hồi hương cổ vật với những kết quả đạt được
Những dấu mốc đầu tiên của việc hồi hương cổ vật Việt Nam đã đạt được từ gần nửa thế kỷ trước. Năm 1978, chuông chùa Ngũ Hộ được luật sư người Nhật và một số người dân Nhật Bản yêu mến Việt Nam quyên góp tiền, đưa từ Tokyo về Bắc Ninh.
Vài năm trở lại đây, sau quá trình đổi mới, nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển, nhu cầu thị hiếu và hưởng thụ của người dân tăng cao, một số cổ vật quý hiếm của Việt Nam bắt đầu được hồi hương. Đầu tiên phải kể đến là cuốn sách phong do vua Thiệu Trị (1841-1846) tấn phong cho bà phi Vũ Thị Viên khi bà được phong từ thứ hạng Lương Tần lên Lương Phi (1846). Cuốn sách bằng bạc được dát vàng, kích thước dài 23cm, rộng 14cm, có 5 tờ, 10 trang, nặng gần 2 kg, với 186 chữ Hán nói về thân thế cũng như sự nghiệp của bà phi này. Bìa sách được chạm trổ hình rồng, bên trong là chữ Hán nói về tiết hạnh cũng như các đức tính của bà phi Vũ Thị Viên. Cuốn sách được hãng Sotheby's đưa ra đấu giá năm 2010, sau nhiều lượt đấu giá, cuốn sách được nhà sưu tầm cổ vật ở Hà Nội mang về Việt Nam với giá 72.750 Euro, tương đương hơn 2 tỷ đồng.
Ngày 13/6/2014, chiếc xe kéo của vua Thành Thái tặng Thái hậu Từ Minh, cùng với long sàng được đưa ra bán đấu giá tại Chateau de Cheverny (Pháp). Giá khởi điểm của nhà đấu giá Rouillac đưa ra là 1.000 Euro. Thời điểm đó, do không thể trực tiếp sang Pháp để tham gia phiên đấu giá, tổ đấu giá cổ vật của tỉnh Thừa Thiên Huế buộc phải đấu giá qua điện thoại với sự hỗ trợ của kiều bào ở nước ngoài. Sau nhiều bước giá với sự cạnh tranh khá khốc liệt của nhiều tổ chức tham gia, cuối cùng, chiếc xe kéo cũng được tỉnh Thừa Thiên Huế đấu giá thành công với tổng kinh phí 55.800 Euro. Ngoài việc sử dụng kinh phí từ ngân sách tỉnh Thừa Thiên Huế để tham gia đấu giá, hiện vật này còn có sự đóng góp của bà con Kiều bào ở Pháp với số kinh phí 10.000 Euro, của các nhà hảo tâm trong nước với số kinh phí 3.000 Euro. Sau khi đấu giá cổ vật thành công, bằng đường hàng không, chiếc xe đã về đến Huế vào ngày 25/4/2015 sau hơn 100 năm lưu lạc.
Xe kéo của vua Thành Thái tặng Thái hậu Từ Minh Vào tối 28/10/2021 tại nhà đấu giá Invaluable ở Barcelona (Tây Ban Nha) gây sửng sốt với các nhà sưu tầm cổ vật và đam mê cổ ngoạn Việt Nam khi 2 cổ vật triều Nguyễn - mũ quan và áo Nhật Bình được đem ra đấu giá. Giá khởi điểm chỉ 600 Euro, thế nhưng chiếc mũ quan triều Nguyễn được đấu giá đạt giá gõ búa cao gấp nghìn lần, chung cuộc là 600.000 Euro (tương đương gần 20 tỉ đồng tính cả thuế và phí). Rất may, người đấu giá thắng cuộc trong phiên đấu giá đó để sở hữu 02 cổ vật này lại là một doanh nghiệp của Việt Nam. Đầu tháng 4/2022, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã đồng ý tiếp nhận 02 cổ vật trên do doanh nghiệp hiến tặng.
Mũ quan triều Nguyễn
Áo Nhật Bình
Trung tuần tháng 10/2022, trên website chính thức của hãng đấu giá Millon (Paris, Pháp) đăng tải thông tin sẽ đưa ra đấu giá 329 cổ vật Việt Nam. Nổi bật trong số đó là chiếc ấn vàng đúc năm 1823 dưới triều Minh Mạng (1820 - 1840), với giá khởi điểm 2 - 3 triệu Euro. Phiên bán đấu giá cổ vật nêu trên dự kiến sẽ được tiến hành vào 11h ngày 31/10/2022 (giờ Paris). Căn cứ thông tin đăng tải trên website của hãng đấu giá và các nguồn sử liệu, bước đầu nhận định chiếc ấn vàng này chính là kim ấn “Hoàng đế chi bảo”. Theo sử liệu, ấn được đúc vào ngày Giáp Thìn, mùng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4 (tức ngày 15/3/1823). Ấn có nuốm (quai) làm rồng cuốn hai tầng, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân, bằng vàng mười tuổi, nặng 280 lạng 9 đồng 2 phân (cao 10,4 cm, nặng 10,78 kg, mặt hình vuông, kích thước 13,8cm x 13,7cm). Phàm chiếu thư, sắc dụ đều đóng ấn ấy. Chiếc ấn này cũng có lịch sử đặc biệt, là một trong hai biểu tượng quyền lực (ấn và kiếm) của triều đại phong kiến nhà Nguyễn, được cựu hoàng Bảo Đại trao cho đại diện chính quyền Cách mạng và tuyên bố thoái vị vào chiều ngày 30/8/1945 tại lầu Ngũ Phụng, Ngọ Môn, Huế. Ấn và kiếm đã bị thất lạc từ những năm đầu thập niên 1950.
Ấn vàng “Hoàng đế chi bảo”
Sau khi có thông tin về việc đấu giá ấn vàng “Hoàng đế chi bảo”, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cùng các cơ quan chức năng mong muốn huy động mọi nguồn lực để đưa ấn về nước. Phương án khác được đưa ra là các cơ quan, tổ chức trong nước có thể quyên góp, tham gia đấu giá ấn, đưa về và hiến tặng cho bảo tàng. Bằng con đường ngoại giao, Việt Nam đã thuyết phục hãng Millon nhiều lần dời lịch đấu giá, tạo điều kiện cho phía Việt Nam có thêm thời gian thương lượng để mua lại. Sau nhiều lần đàm phán, thương thảo, vào ngày 21/11/2022, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông báo đàm phán thành công với hãng đấu giá Millon để chuyển giao ấn về Việt Nam, "trên tinh thần đồng thuận, thấu hiểu giữa hai bên và mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Cộng hòa Pháp". Tại thời điểm đoàn công tác liên ngành làm việc tại Pháp (tháng 11/2022), đã nỗ lực tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ để kịp thời có cơ sở đàm phán, dừng đấu giá và yêu cầu chuyển giao ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” cho phía Việt Nam. Ông Nguyễn Thế Hồng - Giám đốc Công ty TNHH Bảo tàng Hoàng gia Nam Hồng được lựa chọn tham gia với mục đích bổ sung sưu tập cá nhân và trưng bày tại Bảo tàng Hoàng gia Nam Hồng (Bắc Ninh). Trước đó, ngày 12/11/2022, Cục Di sản văn hóa đã xin phép và ký kết thỏa thuận việc đàm phán mua ấn vàng Hoàng đế chi bảo từ Pháp đưa về Việt Nam và chuyển nhượng ấn vàng cho Nhà nước với Công ty TNHH Bảo tàng Hoàng gia Nam Hồng. Trong đó có cam kết: "Bên A và cá nhân ông Nguyễn Thế Hồng cam kết và bảo đảm ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” sẽ chỉ chuyển giao cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trên cơ sở phù hợp với quy định của điều 43 Luật Di sản văn hóa sau một thời gian phù hợp khi bên A không còn nhu cầu sở hữu, trưng bày, phát huy giá trị tại Bảo tàng Hoàng gia Nam Hồng, Bắc Ninh, Việt Nam.
Chi phí chuyển giao bao gồm: chi phí trả cho việc thuê luật sư đàm phán; chi phí mua ấn vàng từ nhà đấu giá Millon, Pháp (bao gồm các loại thuế, phí liên quan); chi phí đưa ấn vàng về nước (chi phí hải quan, vận chuyển quốc tế).
Đặc biệt, trong trường hợp có tổ chức, cá nhân mong muốn chuyển nhượng Ấn vàng Hoàng đế chi bảo từ Bảo tàng Nam Hồng để hiến tặng cho Nhà nước thì ông Hồng cam kết đồng thuận chuyển nhượng, với chi phí chuyển nhượng được tính theo chi phí chuyển giao trên".
Sau một năm tiến hành các thủ tục liên quan, ngày 16/11/2023, ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” đã trở về “đất mẹ” Việt Nam.
Ngoài những cổ vật Việt Nam được hồi hương qua con đường đấu giá quốc tế thì cũng có một số cổ vật thu từ các cuộc điều tra buôn bán trái phép được chính phủ các nước tự nguyện trao trả cho Việt Nam, như trường hợp 18 cổ vật nhận từ Đức năm 2018, 10 cổ vật văn hoá Đông Sơn nhận từ Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) năm 2022. Hiện nay, những cổ vật này đang được lưu giữ và phát huy giá trị tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Đặc biệt, ngày 22/6/2022, website của Bộ Tư pháp Mỹ đăng thông báo về việc tịch thu 12 triệu đô la và bức tượng đồng từ thế kỷ 7 có nguồn gốc Việt Nam (Công điện số 198/ĐSQ ngày 23/6/2022). Đây là vụ tịch thu cổ vật văn hoá có giá trị lớn nhất từ trước đến nay. Cụ thể, năm 2019 các điều tra viên của Văn phòng Điều tra An ninh Nội địa tại New York, đã truy tố ông Douglas Latchford, một nhà sưu tầm và buôn bán đồ cổ quốc tịch Anh, đã phạm tội buôn lậu nhiều di vật văn hoá Khmer trên thị trường quốc tế bằng cách làm giả giấy tờ để che giấu nguồn gốc. Vào tháng 9/2020, bản cáo trạng đã bị bác do Douglas Latchford chết. Latchford đã thu được hơn 12 triệu đô la từ việc buôn lậu các di vật này qua tài khoản ngân hàng tại Bailiwick of Jersey (Vương quốc Anh). Vào khoảng năm 2008 - 2009, Latchford đã tới Việt Nam để mua một bức tượng đồng từ thế kỷ 7 mô tả nữ thần Durga bốn tay bằng số tiền thu được từ buôn lậu. Sau quá trình dàn xếp pháp lý với nguyên đơn, con gái Latchford, luật sư quận Nam New York đã phán quyết tịch thu 12 triệu đô và tượng đồng Nữ thần Durga.
Trước đó, chiều ngày 21/6/2022, Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng đã tiếp ông Mark Vlasic, luật sư và giảng viên luật Đại học Georgetown, cố vấn cho Tổng giám đốc UNESCO về bảo vệ di sản văn hoá. Ông Mark Vlasic đã thông tin trước về vụ việc trên và cho biết thêm tượng đồng Durga hiện đang ở London (Vương quốc Anh), được chuyên gia định giá 18 triệu đô la và dự kiến sẽ trao trả cho Đại sứ quán Việt Nam tại Anh vào cuối tháng 8/2023.
Sau khi nhận được thông tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh đã tiến hành làm việc với Bộ Ngoại giao và các cơ quan chức năng của Anh về bức tượng. Trên cơ sở đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh đã có các Công điện đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho ý kiến về việc tiếp nhận bức tượng đồng Nữ thần Durga. Đồng thời, qua các Công điện, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh cũng đã nêu lên các phương án tiếp nhận và vận chuyển tượng đồng Nữ thần Durga về Việt Nam.
Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, từ giữa tháng 8/2023, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã xây dựng kế hoạch và phương án tiếp nhận, vận chuyển tượng đồng Nữ thần Durga về Việt Nam. Với sự nỗ lực và tinh thần trách nhiệm, kêu gọi các đối tác, nhà sưu tầm tài trợ kinh phí, đầu năm 2024, đoàn cán bộ Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cùng Bảo tàng Lịch sử quốc gia và các nhà tài trợ đã sang Anh để xác định tình trạng, giá trị và ký kết hợp đồng đóng gói, vận chuyển hồi hương tượng đồng Nữ thần Durga. Ngày 21/02/2024, bức tượng đã về đến sân bay Nội Bài (Hà Nội) sau 15 năm bị bán trái phép, lưu lạc ra nước ngoài.
2. Các phương thức và hình thức hồi hương cổ vật Việt Nam
Như vậy, dù số lượng còn rất hạn chế, nhưng trong 15 năm qua, các cổ vật quý giá của Việt Nam, bằng nhiều con đường khác nhau cũng đã dần trở về “cố hương” sau nhiều năm lưu lạc. Qua đó, bước đầu đã cho thấy rõ việc cổ vật được hồi hương qua nhiều cách thức khác nhau với sự tham gia trực tiếp của nhà nước cũng như sự hỗ trợ, vào cuộc của các tổ chức, cá nhân. Những phương thức, hình thức hồi hương có thể tựu trung vào 4 hướng chính:
- Thứ nhất, cá nhân, tổ chức vận động quyên góp mua cổ vật và hiến tặng về nước, như trường hợp chuông chùa Ngũ Hộ đưa từ Tokyo, Nhật Bản về Bắc Ninh năm 1978.
- Thứ hai, cá nhân, tổ chức tham gia đấu giá ở nước ngoài và hiến tặng về nước như trường hợp xe của Hoàng Thái hậu Từ Minh đưa về Huế năm 2015, mũ quan triều Nguyễn và áo Nhật Bình tháng 4/2021. - Thứ ba, là sự kết hợp công - tư, nhà nước vào cuộc đấu tranh pháp lý, thương thảo, đàm phán trực tiếp với hãng đấu giá quốc tế, sau đó kêu gọi xã hội hoá và ký kết hợp đồng cam kết phát huy và chuyển nhượng như trường hợp ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” từ tháng 11/2022 đến tháng 11/2023.
- Thứ tư, chính phủ các nước tự nguyện trả cổ vật của Việt Nam thu được từ các cuộc điều tra buôn bán trái phép như trường hợp 18 cổ vật nhận từ Đức năm 2018, một số cổ vật Đông Sơn nhận từ Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) tháng 8/2022, hay gần đây là tượng đồng Nữ thần Durga hồi tháng 02/2024. Đây là thành quả mà chúng ta đạt được sau khi Việt Nam tham gia Công ước UNESCO 1970 về chống buôn bán trái phép tài sản văn hóa vào năm 2005. Phương thức hồi hương cổ vật này được đánh giá cao và chúng ta mong muốn tiếp tục nhận được sự hợp tác từ chính phủ các nước trên thế giới có cổ vật Việt Nam lưu lạc. Ngoài các phương thức và hình thức cơ bản nêu trên, con đường hồi hương cổ vật Việt Nam còn được thực hiện bởi các sưu tập tư nhân mua hoặc đấu giá trực tiếp từ nước ngoài về Việt Nam như trường hợp sách phong mạ vàng thời Thiệu Trị hay các cổ vật khác của tư nhân mua về và không qua kênh nhập khẩu cổ vật, hoặc không áp mã hồ sơ cổ vật nên chúng ta không nắm được thông tin cụ thể.
Có thể nói, đây là những phương thức và hình thức hồi hương cổ vật Việt Nam mà chúng ta cần vận dụng để xây dựng cơ chế, chính sách hồi hương cổ vật hiệu quả.
Trong thời gian gần đây, trên các báo đài, thông tin về việc hồi hương cổ vật được quan tâm đặc biệt, với những tín hiệu khả quan, đáng mừng, với nhiều cổ vật có giá trị và ý nghĩa đặc biệt đã được hồi hương.
3. Cơ chế, chính sách hồi hương cổ vật
Tuy nhiên, với một quốc gia có bề dày lịch sử, văn hiến, có nền văn hoá phong phú, đa dạng, lại trải qua nhiều thăng trầm, biến cố do chiến tranh, lửa đạn, số lượng cổ vật bị thất thoát, cướp bóc và vơ vét là nhiều vô kể, nên những gì được đưa về trong thời gian gần đây chỉ như muối bỏ biển.
Chúng ta biết rằng, từ đầu thế kỷ XX, các học giả nước ngoài khi đến Việt Nam nghiên cứu về khảo cổ học, dân tộc học, đã mang về nước họ nhiều cổ vật đặc trưng (ví dụ, theo báo cáo J. Clays (hồ sơ lưu trữ của EFEO), trong đợt khai quật di tích Tháp Mẫm (Bình Định) năm 1934, đã đưa về Bảo tàng Guimet (Pháp) 58 tấn các tác phẩm điêu khắc đá). Và một phần cổ vật được chính những người Việt khi đi định cư ở nước ngoài đem theo. Bên cạnh đó là nguồn thất thoát thông qua con đường thương mại, nạn buôn bán cổ vật từ Việt Nam ra nước ngoài rầm rộ, khó kiểm soát. Cổ vật trở thành một loại hàng hóa mang lại lợi nhuận kinh tế lớn, và do những hạn chế về phương tiện bảo vệ, nên một lượng không nhỏ cổ vật và tư liệu lịch sử ở các đình, chùa, di tích các cấp bị đánh cắp… gây nên sự thất thoát và lưu lạc ở nước ngoài. Vì vậy, nguồn cổ vật Việt Nam ở nước ngoài hiện nay chưa thể thống kê chính xác. Đó là một thách thức, nhưng đồng thời cũng cho thấy việc hồi hương cổ vật về nước là vô cùng cấp thiết. Điều này không những có ý nghĩa đối với công tác bảo tồn, phát huy toàn vẹn giá trị di sản văn hóa truyền thống, mà còn góp phần khẳng định vị thế, chủ quyền đất nước, cũng như nhân lên niềm tự hào dân tộc. Tuy nhiên, hành trình hồi hương cổ vật phải đối mặt với nhiều khó khăn. Thời gian qua, nước ta đã có nhiều nỗ lực trong quá trình hoàn thiện hệ thống luật pháp liên quan đến di sản văn hóa, nhưng riêng với lĩnh vực hồi hương cổ vật vẫn còn nhiều khoảng trống. Do vậy, các tổ chức, cá nhân khi đưa cổ vật Việt Nam hồi hương phải đối diện nhiều thủ tục hành chính, cùng những vướng mắc về thuế nhập khẩu, hải quan…
Nhằm quản lý tốt hơn sự biến động của các cổ vật, trong Luật Di sản văn hóa, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đăng ký di vật, cổ vật thuộc sở hữu của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch. Nhưng, việc đăng ký cổ vật thuộc sở hữu tư nhân thời gian qua mới chỉ diễn ra lẻ tẻ, không nhiều nhà sưu tầm chứng minh được nguồn gốc cổ vật, hơn nữa giới chơi cổ vật thường mua bán, trao đổi liên tục, chưa kể quy trình giám định, đăng ký mất nhiều thời gian, chi phí... Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khó quản lý thị trường cổ vật, gây khó khăn cho việc hồi hương.
Trên thực tế, phần nhiều cổ vật Việt Nam bị lưu lạc ở nước ngoài thuộc các bộ sưu tập tư nhân, nên hồi hương cổ vật bằng hình thức đấu giá theo thông lệ quốc tế vẫn là con đường ngắn nhất. Việc nhiều cổ vật Việt Nam và các tác phẩm hội hoạ của mỹ thuật Đông Dương trên sàn đấu giá quốc tế gần đây có giá tăng chóng mặt, bước đầu đã khẳng định được giá trị, vị thế, uy tín của nền văn hóa, văn hiến Việt Nam, nhưng cũng là thách thức lớn cho hồi hương cổ vật Việt Nam thông qua con đường đấu giá, bởi người Việt khó lòng đối đầu về tiềm lực tài chính với những đại gia tầm cỡ thế giới, nhất là khi giá bán cuối cùng sau những tiếng gõ búa bao giờ cũng cách biệt rất xa so với giá khởi điểm, chưa kể người mua còn phải trả thêm phí cho các nhà đấu giá, thuế, chi phí đóng gói, vận chuyển...
Như vậy, có thể thấy, khoảng trống về hành lang pháp lý, sự khuyết thiếu về cơ chế, chính sách cũng như sự hạn chế về tiềm lực tài chính... đang là những điểm nghẽn gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hồi hương cổ vật của Việt Nam. Chúng ta cũng vẫn còn bị động trong việc đưa cổ vật hồi hương, thậm chí bị động ngay từ khâu tiếp nhận thông tin. Có những cổ vật khi xuất hiện tại phiên đấu giá nước ngoài mới được Việt Nam hay biết, dẫn đến chậm chân sở hữu. Do vậy, để không lỡ nhịp hồi hương cổ vật, đã đến lúc chúng ta cần có một chiến lược đồng bộ, dài hơi, với những giải pháp khả thi nhằm khắc phục những rào cản, huy động sức mạnh của toàn xã hội vào công cuộc đưa các cổ vật giá trị về nước.
Từ thực tế của Việt Nam, chúng ta có thể tham khảo thêm những kinh nghiệm của các nước trong công tác hồi hương cổ vật. Đơn cử như nước láng giềng Trung Quốc, trong khoảng 20 năm trở lại đây, Trung Quốc là một trong những quốc gia thành công nhất trong việc hồi hương các cổ vật từ nước ngoài nhờ sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của Hoa kiều, và đặc biệt là nhờ có những chính sách linh hoạt, phù hợp. Chính phủ Trung Quốc đã xem việc hồi hương các cổ vật là một trong những vấn đề cần được ưu tiên hàng đầu, từ đó họ có sự đầu tư xứng đáng để nghiên cứu, ban hành những chính sách phù hợp. Đến nay Trung Quốc đã ký kết 23 thỏa thuận song phương với các quốc gia ở châu Âu, Mỹ, Australia, là những quốc gia hiện đang nắm giữ nhiều nhất các cổ vật có nguồn gốc Trung Quốc để tạo hành lang pháp lý cho việc hồi hương các cổ vật và di sản văn hóa của họ. Tích cực vận động Hoa kiều ở các nước chung tay tìm kiếm, phát hiện, cung cấp danh sách các cổ vật Trung Quốc đang ở nước ngoài, vận động Hoa kiều tham gia quyên góp, đấu giá, hiến tặng cổ vật cho đất nước.
Ai Cập là một trong những quốc gia có lượng cổ vật quý giá bị cướp đoạt nhiều nhất trong quá khứ, nhưng gần đây Chính phủ Ai Cập đã tỏ rõ nỗ lực hồi hương các cổ vật của đất nước mình. Chính phủ Ai Cập đã phát động một chiến dịch toàn cầu chủ yếu thông qua con đường đàm phán ngoại giao để đòi lại các cổ vật, và họ đã đạt được nhiều thành công rất đáng kể. Tháng 2/2021, Chính phủ Mỹ đã trả lại khoảng 5.000 cổ vật cho Ai Cập và đây là kết quả của những nỗ lực đàm phán từ năm 2016. Cuối năm 2021, Ai Cập lại thông báo họ thu hồi được 36 cổ vật từ Tây Ban Nha, là các cổ vật bị đánh cắp và buôn lậu từ Ai Cập qua quốc gia châu Âu này. Bên cạnh việc đàm phán ngoại giao với các quốc gia, Ai Cập cũng quyết liệt kiểm soát nạn buôn lậu cổ vật từ trong nước.
Ấn Độ xem ngoại giao cổ vật là một trong những chính sách ngoại giao văn hóa - chính trị quan trọng đối với các nước phương Tây. Thủ tướng Modi đã thành công không chỉ một lần với chính phủ Mỹ, mà ông đã thuyết phục thành công chính phủ các nước Đức, Canada, Singapore… trả lại cổ vật cho Ấn Độ. Sau khi lên nắm quyền năm 2014, ông Modi đã trực tiếp thuyết phục và hồi hương hàng chục cổ vật sau những chuyến công du ngoại giao. Để hỗ trợ cho việc này, ông Modi đã cho thành lập một cơ quan đặc biệt (STF) tập hợp một số quan chức ngoại giao và văn hóa có năng lực để thường xuyên liên lạc với các quốc gia nhằm xác minh rõ các cổ vật Ấn Độ đang được lưu giữ tại chính nước đó. Chính phủ Ấn Độ còn tích cực ký kết biên bản ghi nhớ với một số nước về vấn đề trao đổi, hồi hương cổ vật.
Năm 2005, Việt Nam đã tham gia Công ước UNESCO 1970 về chống buôn bán trái phép tài sản văn hóa, trường hợp 18 cổ vật từ Đức hồi hương năm 2018, 10 cổ vật Đông Sơn nhận từ Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) tháng 8/2022, hay tượng đồng Nữ thần Durga đang chuẩn bị tiếp nhận, chuyển về Bảo tàng Lịch sử quốc gia là kết quả khi chúng ta tham gia Công ước UNESCO 1970. Tuy nhiên, những thủ tục về thuế và hải quan của những cổ vật hồi hương này còn gặp nhiều hạn chế. Do vậy, để rộng cửa cho việc hồi hương cổ vật, ngoài việc khắc phục những bất cập trong cơ chế thủ tục, thay đổi hành lang pháp lý thì Việt Nam nên học tập kinh nghiệm các nước trong khu vực. Hàn Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia rất thành công việc hồi hương cổ vật bằng nhiều chính sách linh hoạt. Họ miễn thuế suất nhập khẩu và đơn giản hóa thủ tục với tất cả vật phẩm văn hóa, lịch sử, mỹ thuật … có niên đại trên 100 năm. Những người giàu được chính phủ vận động mua cổ vật và sẽ được miễn giảm thuế thu nhập nhờ vào các hoạt động hiến tặng. Họ cử chuyên gia đi khắp thế giới để nghiên cứu, thống kê, lập hồ sơ khoa học cho những cổ vật. Nếu chưa thể đưa hẳn về nước thì họ thương lượng với chủ sở hữu để tạm thời trưng bày cho công chúng trong nước tận mắt chiêm ngưỡng. Đó cũng là phương thức chống lãng phí tài sản, di sản văn hoá. 4. Một vài kiến nghị, đề xuất
Từ thực tiễn của công tác hồi hương cổ vật với những kết quả đạt được khả quan, song còn nhiều khó khăn, tồn tại, đã đến lúc cần có sự đồng bộ hệ thống pháp luật và chính sách phù hợp cho việc hồi hương cổ vật Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ tham gia Công ước UNESCO 1970 mà chưa tham gia một số công ước, hiến chương, khuyến nghị về di sản văn hóa và bảo vệ cổ vật, như Công ước UNIDROIT về tài sản văn hóa bị đánh cắp hay xuất khẩu trái phép năm 1955, Khuyến nghị của UNESCO về các nguyên tắc quốc tế áp dụng cho khai quật khảo cổ năm 1956 (Khuyến nghị New Delhi). Vì vậy, chúng ta gặp không ít khó khăn khi muốn hồi hương cổ vật bằng con đường luật pháp quốc tế. Việc tích cực tham gia nhiều công ước quốc tế về bảo vệ cổ vật không chỉ giúp hạn chế, ngăn chặn tình trạng đánh cắp, buôn bán trái phép cổ vật, mà còn giúp tạo căn cứ pháp lý quan trọng để tiến hành đàm phán, ngoại giao hay thực hiện các biện pháp cần thiết khác để đưa cổ vật về nước.
Đối với hệ thống pháp luật trong nước, hồi hương cổ vật vẫn còn là nội dung mới, Luật Di sản văn hóa chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về việc đưa cổ vật Việt Nam về nước. Trong khi đó, trải qua chiến tranh, biến động lịch sử, nạn buôn bán cổ vật trái phép, các di vật nghệ thuật, cổ vật quý, hiếm hay tư liệu lịch sử… vẫn đang trôi nổi, lưu lạc ở nước ngoài.
Một cơ chế, chính sách phù hợp là cần thiết để khuyến khích tư nhân tham gia đấu giá, hồi hương cổ vật. Việc kết hợp một số giải pháp về mặt ngoại giao và văn hóa để hồi hương các cổ vật, tác phẩm nghệ thuật, trong bối cảnh ngân sách nhà nước hạn chế, cần khuyến khích các doanh nghiệp, nhà sưu tập tư nhân, bảo tàng tư nhân, người có điều kiện tài chính tham gia đưa cổ vật về nước với những ưu đãi cụ thể về thủ tục hành chính, hải quan, thuế, an ninh. Nhà nước cần ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền sở hữu tư nhân của những người bỏ tiền đưa cổ vật về nước, đồng thời tổ chức trưng bày, triển lãm tôn vinh, quảng bá giá trị các cổ vật.
Trong bối cảnh đó, cần sớm xây dựng quỹ hồi hương cổ vật, để có thể chủ động hơn trong việc bố trí ngân sách dự phòng đặc biệt cho di sản văn hóa dân tộc. Việt Nam cần sớm xây dựng quỹ hồi hương cổ vật thông qua ngân sách của Nhà nước, của địa phương, huy động từ các tập đoàn kinh tế, cộng đồng người Việt trong và ngoài nước và những người nước ngoài yêu di sản văn hóa Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng ta cần tính đến đơn vị chuyên trách hồi hương các cổ vật của nước ta bị xuất khẩu trái phép ra nước ngoài trong các thời kỳ, tích cực vận động Việt kiều chung tay tìm kiếm, phát hiện, cung cấp danh sách cổ vật Việt Nam ở nước ngoài, vận động họ tham gia quyên góp, đấu giá, hiến tặng cổ vật cho đất nước…
Việc xây dựng chương trình, kế hoạch khảo sát, đánh giá, lập danh mục hiện vật thất thoát có nguồn gốc Việt Nam, đánh giá thẩm định, giám định, phân loại cấp độ, trên cơ sở đó, chủ động đề xuất kế hoạch hồi hương. Chúng ta cũng cần xây dựng hệ tiêu chí cho những cổ vật cần thiết hồi hương. Việc lựa chọn, quyết định đưa cổ vật nào về nước phải dựa trên đánh giá, kiểm định mức độ giá trị về mặt lịch sử, văn hóa của hiện vật. Không phải cổ vật nào ở nước ngoài cũng cần hồi hương, bởi có rất nhiều cổ vật cùng chủng loại tương tự như những cổ vật Việt Nam đang lưu giữ trong nước. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, sự xuất hiện của cổ vật Việt Nam tại các bảo tàng, sưu tập ngoài nước cũng chính là con đường hữu hiệu để giới thiệu, quảng bá, khẳng định và lan tỏa dấu ấn văn hóa Việt Nam tới bạn bè quốc tế.
Trong bối cảnh hiện nay, khi công tác hồi hương cổ vật đang có nhiều chuyển biến, những câu chuyện lịch sử, văn hóa xung quanh cổ vật thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng. Chúng ta mong muốn và hi vọng về một chiến lược hồi hương cổ vật với những quy định, cơ chế, chính sách rõ ràng, thuận lợi hơn để có thêm nhiều cổ vật được đưa về nước để bổ sung, hoàn thiện di sản văn hóa, nghệ thuật quốc gia, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế văn hóa, du lịch nước nhà.
Tường Long