Chiến thư trong mâm đồng hai đáy
Năm 1627, chúa Trịnh muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong thần phục, bèn cử sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Nguyễn Phúc Nguyên và đòi lễ vật cống nạp. Về phần Đàng Trong, sau mấy chục năm gây dựng cơ nghiệp, thực lực của họ Nguyễn đã mạnh lên nhiều. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên theo chí hướng của cha là Nguyễn Hoàng từ lâu nuôi ý đồ dứt bỏ sự lệ thuộc và triều đình Lê – Trịnh. Trước việc vua Lê sai sứ giả vào phong, Chúa Nguyễn không chịu nhưng cũng chưa biết xử trí ra sao. Đào Duy Từ bèn khuyên chúa bước đầu cứ nhận sắc rồi sau sẽ tìm kế đối phó.
3 năm sau, khi đã chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện thuận lợi, Đào Duy Từ bàn với chúa Nguyễn, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc của vua Lê kèm một tờ thiếp có 4 câu chữ Hán vào giữa rồi hàn kín lại. Trên mâm bày nhiều lễ vật hậu hĩnh rồi cử sứ giả đem ra Thăng Long để tạ ơn vua Lê, chúa Trịnh.
 |
| Tranh vẽ cảnh Đào Duy Từ đang bàn việc quân cơ với tướng sĩ. |
Cẩn thận hơn nữa, Đào Duy Từ lại nghĩ sẵn các câu hỏi và câu trả lời để đối đáp với triều đình Đàng Ngoài để sứ giả biết cách đối phó. Sau khi dâng xong lễ vật, đang đêm đoàn sứ giả lẻn ra khỏi Thăng Long và theo đường biển chạy về Đàng Trong an toàn.
Thấy chiếc mâm đồng có hai đáy, chúa Trịnh ngờ vực bèn cho người mở ra thì thấy có tờ sắc phong và 4 câu chữ Hán: “Mâu phi vô dịch/Mịch phi kiến tích/Ái lạc tâm trường/Lực lai dương địch”
Lúc bấy giờ cả triều đình Đàng Ngoài không ai hiểu được thâm ý bên trong là gì. Sau trạng Bùng Phùng Khắc Khoan được mời đến hỏi thì mới vỡ lẽ đây là một phép chiết tự ẩn ngữ: Chữ “mâu” không có dấu phết thì thành chữ “dư”, chữ “mịch” bỏ bớt chữ “kiến” sẽ ra chữ “bất”, chữ “ái” để mất chữ “tâm” thành chữ “thụ” và chữ “lực” đi cùng chữ “lai” thì thành chữ “sắc”. Gộp cả 4 câu lại thì thành cụm từ “Dư bất thụ sắc” nghĩa là “Ta không nhận sắc phong”.
Khi đã hiểu ra, chúa Trịnh giận giữ muốn đi bắt đoàn sứ giả của Đàng Trong lại nhưng họ đã lẻn trốn đi từ trước và theo đường biển trở về Nam. Từ đây bắt đầu thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh.
Chúa Nguyễn ở Đàng Trong nghe theo mưu kế của Đào Duy Từ, cho đắp lũy Trường Dục và Lũy Thày ở vùng Quảng Bình để chống quân Trịnh. Những chiến lũy này được canh gác cẩn mật đến con ruồi cũng khó qua lọt. Đương thời dân gian có câu hát ca ngợi: “Khôn ngoan qua cửa sông La/Dẫu rằng có cánh khó qua lũy Thày”.
Nhờ vào hệ thống chiến lũy này mà quân Nguyễn dù binh lực, khí giới không bằng một phần ba quân Trịnh nhưng vẫn chống trả các cuộc tấn công có hiệu quả. Đó chính là công lao của Đào Duy Từ.
 |
| Cổng vào phần mộ Đào Duy Từ ở Hoài Nhơn, Bình Định. |
“Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen”
Từ sau khi biết rằng Đào Duy Từ là nhân vật then chốt trong chính quyền của Đàng Trong, chúa Trịnh đã không tiếc của nả để mua chuộc lôi kéo ông về với Đàng Ngoài. Để thực hiện được mục đích, chúa Trịnh sai người mang nhiều vàng bạc vào biếu Đào Duy Từ kèm theo một bức thư riêng nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài, nếu trở về sẽ được triều đình trọng vọng, cho giữ chức quan to.
Vốn Đào Duy Từ người ở làng Hoa Trai, nay thuộc xã Nguyên Bình, Tĩnh Gia, Thanh Hóa (Đại Nam thực lục tiền biên, phần chúa Sãi Vương). Vì cha ông là Đào Tá Hán là một kép hát nên Đào Duy Từ không được tham gia thi cử. Năm 21 tuổi, Duy Từ từng đổi sang họ mẹ để đi thi Hương và đỗ á nguyên rồi tham gia tiếp kỳ thi Hội nhưng vì triều đình phát giác ra việc ông là con người kép hát nên đã bắt giam tra xét. Sự việc khiến mẹ Duy Từ phẫn uất đã tự tử.
Suốt 30 năm sau đó, Đào Duy Từ sống trong đau khổ, giày vò. Cuối cùng, không muốn để sống uổng một đời mình, Đào Duy Từ đã tìm vào Nam theo chúa Nguyễn, và ở đây, anh hùng tương ngộ, Duy Từ ngay lập tức được phong tước Hầu, làm quân sư bàn việc quân cơ đại sự. Chúa Nguyễn gọi ông bằng Thày, cả miền Đàng Trong gọi ông bằng Thày.
Nghĩ lại một thuở hàn vi của mình, Đào Duy Từ đã trả lại quà tặng và viết bài thơ đáp chúa Trịnh rằng: “Ba đồng một lá trầu cay/Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không/Bây giờ em đã có chồng/Như chim vào lồng như cá cắn câu/Cá cắn câu biết đâu mà gỡ/Chim vào lồng biết thuở nào ra”.
Đọc thư hồi âm, chúa Trịnh biết khó lôi kéo được Đào nhưng lại thấy bài thơ chưa có câu kết nên vẫn nuôi hi vọng. Bởi thế chúa lại sai người đem lễ vật hậu hĩnh hơn vào gặp Duy Từ. Lúc này Đào Duy Từ mới viết nốt hai câu kết để trả lời dứt khoát: “Có lòng xin tạ ơn lòng/Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen”.
Trong lịch sử dân tộc, thật hiếm có nhân vật nào có số phận như Đào Duy Từ. Vốn mang tài năng mà suýt không có chỗ dùng. Nhưng cũng hiếm có ai được như ông, dù không phải là nhà sư phạm với hàng ngàn môn hạ như cụ Khổng Tử nhưng vẫn được dân chúng khắp xứ Đàng Trong gọi bằng Thày. Với những đóng góp của mình cho sự nghiệp của họ Nguyễn, sau này khi viết Đại Nam thực lục tiền biên, Quốc sử quán triều Nguyễn đã ngợi ca ông là công thần khai quốc số một. Đối với lịch sử dân tộc, đóng góp nổi bật nhất của Đào Duy Từ là đã để lại cuốn binh thư “Hổ trướng khu cơ”. Đó là một cuốn sách dạy cách dùng binh duy nhất của người Việt còn tồn tại nguyên bản đến ngày nay (hai cuốn “Binh thư yếu lược” và “Vạn Kiếp Tông bí truyền thư” của Hưng Đạo Vương đã không còn nguyên bản hoặc bị thất truyền).