Thứ Sáu, 12/12/2025
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

06/09/2011 11:24 2712
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Tháng 10 năm Canh Thìn, vua Trần Nhân Tông đang đi trên đường thì có người dân đón đường mong được minh xét. Vua đã xử án ngay giữa đường, phát hiện ra một số quan lại lộng quyền ức hiếp người dân.

Trần Nhân Tông giữa đường xử kiện

Là người nắm uy quyền tối cao nên mặc dù đặt ra cơ quan chuyên phụ trách việc hình án, xử lý kiện tụng nhưng trong một số trường hợp nhất định, có những vị vua Việt Nam đã trực tiếp xử án. Như trường hợp vua Trần Nhân Tông, nhưng chuyện ông xử án rất đặc biệt, không phải tại cung đình, trong công đường mà ở giữa đường.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” cho hay, vào tháng 10 năm Canh Thìn (1280) khi vua đang đi trên đường thì phải dừng xe lại để xử kiện: “Em Đỗ Khắc Chung* là Đỗ Thiên Thư kiện tụng với người dân, tình lý đều trái. Người dân kia đón xa giá để kêu bày.

Vua hỏi quan xử kiện. Viên quan đó trả lời: "Án xử đã xong, nhưng hình như quan thoái thác không chịu chuẩn định đó thôi".

Vua nói: "Đó là do sợ mà né tránh Khắc Chung đấy!". Ngay lúc đó, vua sai Chánh trưởng nội thư hỏa là Trần Hùng Thao kiêm chức kiểm pháp quan để chuẩn định. Thiên Thư quả nhiên làm trái, Quan áo xanh (tức là hoạn quan) được làm việc kiểm pháp bắt đầu từ Hùng Thao.

Đánh giá về câu chuyện này, nhà sử học thời Hậu Lê là Ngô Sĩ Liên viết: “Người kiện có điều oan uổng mà được dễ dàng kêu bày, hình quan để chậm án, không thấy có lời trách hỏi, hoạn quan nội thần lạm cử làm pháp quan, vua làm việc này có có ba lầm lỗi kèm theo, nhưng như vậy thì dân tình được thấu lên trên. Việc cai trị dân, thà sai để khoan thứ để cho án kiện đọng lại được xử ngay, cũng đủ thấy được lòng trung hậu của vua” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lê Ý Tông - vua đầu tiên cấp lính hầu cho người đỗ Tiến sĩ

“Trị nước tất phải nhờ ở nhân tài, mà cầu tìm nhân tài ắt phải do đường khoa mục”(Bia Tiến sĩ khoa Bính Tuất – 1706).

Nhận thức được tầm quan trọng của nhân tài, nhà Hậu Lê đã đề ra rất nhiều chính sách ưu đãi thể hiện qua việc ban ơn kèm theo những hình thức tôn vinh, đề cao những bậc hiền tài như treo bảng vàng, xướng tên, ban yến tiệc, ban mũ áo cân đai, cho vàng bạc, vật phẩm, dựng nhà cho ở, khắc tên trên bia Tiến sĩ.... Trong cuốn sách Kiến văn tiểu lục của mình, Lê Qúy Đôn đã dẫn ra một số đãi ngộ của triều đình đối với người thi đỗ tiến sĩ và nhấn mạnh rằng: “Bản triều từ lúc trung hưng đến nay, đối với người đỗ khoa tiến sĩ, đãi ngộ rất hậu, bổ dụng rất cao, … Ân điển này, so với việc đặt khoa mục ở Trung Quốc từ xưa đến nay chưa từng có”.

Ngoài các ưu ái đó, giữa năm Bính Thìn (1736) vua Lê Ý Tông quy định mức hẫu đãi cấp cho các tiến sĩ lính hầu với số lượng khác nhau: “Định lệ xuất lính theo hầu quan văn có thứ bậc, khoa thi tiến sĩ đỗ Trạng nguyên thì được lính hầu 55 suất, Bảng nhãn 50 xuất, Thám hoa 45 xuất, Hoàng giáp mỗi người 40 xuất, tiến sĩ mỗi người 35 suất. Khoa thi Đông các, trúng cách thứ nhất được 30 suất, trúng cách thứ nhì 25 suất, trúng cách thứ ba 20 suất” (Đại Việt sử ký tục biên).

Lê Chiêu Thống không có chìa khóa phải đứng chờ ngoài cửa thành

Nếu như vào cuối tháng 3 năm 2011 vừa qua, truyền thông thế giới truyền đi hình ảnh Tổng thống Mỹ Obama không thể mở cửa vào phòng làm việc của mình tại Nhà Trắng vì cửa văn phòng bị khóa, nhân viên không được thông báo Tổng thống đã trở về sớm hơn dự định sau chuyến công du tới các nước Mỹ Latinh, sự kiện này được coi như là một câu chuyện thú vị.

Còn ở Việt Nam, vị hoàng đế cuối cùng của nhà Hậu Lê là Lê Chiêu Thống cũng có lần rơi vào tình cảnh phải đứng chờ ở ngoài kinh thành vì không có chìa khóa mở cửa. Lý do xuất phát từ sự chậm trễ của một vị quan tên là Nguyễn Bá Lan, ông quê ở Cổ Linh, huyện Gia Lâm (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội), đỗ tiến sĩ khoa Ất Tị (1785).

Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” cho biết về tình huống này như sau: “Đinh Mùi, Lê Mẫn Đế, năm Chiêu Thống thứ nhất (1787). Đời nhà Thanh, năm Càn Long thứ 52. Tháng giêng, mùa xuân, làm lễ tế Giao. Theo thể lệ cũ, khi tế Giao, xa giá nhà vua từ cửa Đại Hưng đi ra. Mở, đóng cửa này do viên Phủ doãn Phụng Thiên giữ chìa khóa. Bấy giờ Nguyễn Bá Lan làm Phủ doãn, theo hầu ngự giá nhưng đi sau. Kịp khi nhà vua về cung phải chờ chìa khóa hồi lâu, không vào được. Triều thần muốn trị tội Bá Lan nhưng nhà vua đặc cách tha cho”.

Tình cảnh bi đát của vua Quang Toản trước khi bị bắt

Tháng 9 năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung đột ngột qua đời, thọ 39 tuổi, triều thần tôn người con thứ của ông là Nguyễn Quang Toản lên ngôi, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh, đến tháng 8 năm Tân Dậu (1801) đổi niên hiệu thành Bảo Hưng.

Nguyễn Quang Toản là Hoàng đế cuối cùng của triều Tây Sơn. Trong thời gian ở ngôi của vị vua trẻ tuổi này, họ ngoại chuyên quyền, triều chính suy vi, các đại thần mâu thuẫn qua giết hại lẫn nhau tạo cơ hội cho Nguyễn Phúc Ánh đem quân phản công, chiếm được kinh đô Phú Xuân.

Vua Quang Toản chạy ra Bắc rồi để mất Thăng Long, cuối cùng phải chạy lên Lạng Giang thì bị bắt. Tình cảnh trước khi bị bắt của vua được sách “Quốc sử di biên” chép lại như sau: “Toản cùng em là Thiệu đội mưa mà đi, sai Tư mã Dụng đem quân Vũ lâm, đô đốc Di đem quân Dực lâm đều cầm gươm vàng, kích bạc; Thiếu úy Lương, Đô đốc Thận cùng đi theo. Đến Bắc trấn, nghe nói tiên phong của đại quân (Nguyễn) đã vào thành Thăng Long, mà hào mục bốn phương đón đánh khắp nơi, quân dân lìa tan, vừa đi vừa chửi, bèn chạy cả lên Lạng Giang. Đến Thọ Xương, cầu bị dân phá, Toản ngoái nhìn những người tả hữu mà than rằng: ‘Lũ ngươi ngày thường tuyên giương đức hóa, không biết làm được những việc gì mà để dân tình như thế!’. Bèn cưỡi coi sang sông, người đi theo chỉ còn vài trăm”.

Vua Tự Đức làm vè châm biếm các quan

Có lẽ Tự Đức, hoàng đế thứ 4 của nhà Nguyễn là vị vua duy nhất trong số các đế vương nước Việt làm vè, càng lạ hơn qua nội dung của bài vè này vua đã châm biếm các đại thần của mình.

Tự Đức

Sự tình bắt đầu từ việc tháng 4 năm Bính Tý (1876), vua Tự Đức cùng triều thần ra cửa Thuận An (còn được gọi là cửa Eo, cửa Nộn cách Huế khoảng 15 km) để quan sát dân tình. Bỗng xuất hiện 2 chiếc thuyền của bọn cướp biển Tàu Ô tấn công 9 chiếc thuyền chở hàng của quân Nguyễn. Chúng bắn giết khiến thuyền của triều đình bỏ chạy tán loạn, những thuyền chiến được cử ra đánh thì súng thần công bắn không tới, phát thì trượt, phát thì không nổ. Không những thế bọn cướp bắn lại khiến cho quân ta nhiều người bị thương vong, sau một hồi cướp giết, thuyền Tàu Ô bỏ đi.

Tận mắt thấy cảnh trớ trêu, bi thảm, tinh thần yếu kém bạc nhược của quan quân, vua Tự Đức ngao ngán trở về triều nhưng không ban lệnh trách phạt ai cả. Trái lại vua dùng “đòn bút” làm cho những người có liên quan phải hổ thẹn bằng một bài vè châm biếm, trong đó có đoạn:

“Nghênh ngang võng võng, dù dù
Bài vàng xiêm mũ xuân thu tháp đầu
Cũng không tài cán chi đâu
Rồi ra múa mỏ, vểnh râu một bè
Phen này mắt thấy, tai nghe
Tham sinh quý tử một bề như nhau
Ăn thì giành trước giành sau
Đến khi có giặc thụt đầu, thụt đuôi
Cũng xưng rằng đấng làm tôi
Cớ sao chẳng biết hổ ngươi trong mình!”.

Vua Bảo Đại
Bảo Đại - vua duy nhất phản đối chế độ đa thê

Cuộc đời vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam thường được gắn với những chuyến thăm thú, vui chơi và nhất là những câu chuyện tình ái với biết bao bóng hồng tuyệt sắc Á, Âu. Tuy nhiên ông cũng chính là vị quân vương duy nhất trong lịch sử công khai tuyên bố phản đối chế độ đa thê.

Chuyện kể rằng để lấy được người đẹp Nguyễn Hữu Thị Lan, vua Bảo Đại đã phải chấp nhận 4 điều kiện của bà. Trong đó điều đầu tiên là phải tấn phong hoàng hậu ngay trong ngày làm lễ thành hôn. Vị hoàng đế đa tình đã chấp nhận tất cả để rồi cô con gái của một hào phú Nam bộ đã trở thành Hoàng hậu Nam Phương. Đáng lẽ ra bà Nguyễn Hữu Thị Lan còn đặt thêm điều kiện “chỉ một vợ một chồng, vua không được có nhiều phi tần”, nhưng bà không đưa ra điều kiện này vì trong một buổi bàn về chuyện hôn nhân của vua, Bảo Đại là nói với triều thần rằng ông chống lại tục đa thê.

Sau này, trong cuốn hồi ký “Le Dragon d’ Annam” (Con rồng An Nam) của mình, chính Bảo Đại cũng đã cho biết lý do ông phản đối tục đa thê: “Như tôi đã có dịp nói, tôi đả phá chế độ đa thê đang thịnh hành ở Việt Nam. Khi phong tôi làm Đông cung Thái tử, không có gì khó khăn vì tôi là hoàng tử độc nhất của Hoàng phụ tôi. Nhưng tôi biết đã xảy ra nhiều tấn bi kịch đẫm máu vì sự tranh chấp kế vị, nhiều khi rất hèn hạ xấu xa giữa anh em ruột hay anh em cùng cha khác mẹ. Tôi không muốn giẫm lên vết xe đổ ấy nữa”.

Lê Thái Dũng

VO13663();
bee.net.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 9250

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Vài nét về chức năng, quyền hạn của Khâm sứ Trung Kỳ và Thống sứ Bắc Kỳ

Vài nét về chức năng, quyền hạn của Khâm sứ Trung Kỳ và Thống sứ Bắc Kỳ

  • 05/09/2011 14:42
  • 2054

Tiếp theo bài viết về “Toàn quyền Đông Dương”, chúng tôi xin tiếp tục giới thiệu Nghị định ngày 01/04/1892 của Toàn quyền Đông Dương quy định quyền hạn của Khâm sứ Trung Kỳ và Thống sứ Bắc Kỳ.