Vua Khải Định đặc biệt phấn khởi với chiếc tàu thủy do Bạch Thái Bưởi đầu tư làm, với chất lượng không thua kém tàu thủy Châu Âu. Nước Nam vốn kém trong ngành "máy móc kỹ xảo", vì thế vua đã phong hàm tước cho ông Bưởi để nêu gương và khích lệ người dân.
Trần Nghệ Tông lập em trai làm Thái tử
Trần Nghệ Tông tên thật là Trần Phủ, là vị hoàng đế thứ 9 của triều Trần, ông vốn không có ý muốn làm vua mà chỉ thích sống an nhàn. Bấy giờ các hoàng thân nhà Trần căm tức việc Dương Nhật Lễ giết Thái hậu, cầm quyền chính mà “rượu chè hoang dâm, hàng ngày chỉ vui chơi, thích chơi các trò” (Đại Việt sử ký toàn thư) nên đã cùng nhau hợp quân thảo phạt.
Khi đó Cung Định vương Trần Phủ vì có con gái làm Hoàng hậu của Dương Nhật Lễ, sợ bị vạ lây bèn trốn tránh lên trấn Đà Giang; em gái ông là công chúa Thiên Ninh biết được mới trách rằng: “Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông mình, sao lại bỏ cho người khác, tôi nên hành động đi, tôi đem bọn gia nô theo sẽ dẹp yên được”.
Sau đó công chúa Thiên Ninh cùng một người em khác của Cung Định vương Trần Phủ là Cung Tuyên vương Trần Kính và các hoàng thân khác họp quân ở sông Đại Lại, phủ Thanh Hóa tôn Trần Phủ làm minh chủ, ngày 15 tháng 11 năm Canh Tuất (1370) khi đi đến phủ Kiến Hưng (nay thuộc Nam Định) thì tôn lên làm hoàng đế rồi tiến về Thăng Long phế truất, giết chết Dương Nhật Lễ.
Cũng bởi không thích làm vua nên Trần Phủ (tức Trần Nghệ Tông) chỉ ở trên ngai vàng hai năm (1370 – 1372) thì nhường ngôi để làm Thái thượng hoàng. Trước đó vào tháng 4 năm Tân Hợi (1371) Trần Nghệ Tông lập em trai là Trần Kính làm Hoàng thái tử, làm tập sách Hoàng Huấn gồm 14 chương để ban cho, lại phong vợ cả của Hoàng thái tử làm Hoàng thái tử phi.
Chuyện một vị vua lập em làm Thái tử khá đặc biệt vì thường chỉ có lập con, lập cháu mà thôi. Lý do là bởi khi Nghệ Tông chưa làm vua, còn đi lánh nạn thì việc tôn ông làm minh chủ, việc chỉ huy quân lính, tập hợp lực lượng, chuẩn bị lương thảo khí giới để đánh Dương Nhật Lễ đều cho em ông là Trần Kính phụ trách, “cho nên Nghệ Tông đem ngôi nhường cho” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Lê Thái Tông cấm mang vào hoàng cung dù chỉ là 1 cái kim
Để bảo đảm sự an toàn đặc biệt cho Hoàng cung, tránh những nguy cơ đe dọa đến vua và hoàng tộc nên vào ngày 28 tháng 8 năm Giáp Dần (1434) vua Lê Thái Tông đã ban lệnh chỉ cho các tướng hiệu, quân nhân, nữ nhân, nội nhân giữ các cửa hoàng thành và cung cấm rằng:
“Từ nay về sau, nếu có cung nhân ở các điện và đại thần, tổng quản, hành khiển cùng bọn nữ quan vào chầu, khi đến cửa cấm thì người coi cửa phải chuyển tâu trước, đợi có sắc chỉ mới được vào. Đàn bà không có phẩm tước đều không được cho vào.
Nội nhân, nữ quan, nô tỳ ở các điện nếu không có việc gì, không được lui tới các điện khác. Nếu người canh cửa không cẩn thận, lấy tình riêng dung túng cho vào bậy, cùng là người nào mang các thứ đồ sắt từ một cái kim trở lên vào trong cung cấm mà không chuyển tâu trước thì phải chiếu luật trị tội” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Vua Lê Trang Tông lên ngôi ở Lào
Vị vua duy nhất lên ngôi ở nước ngoài này là Lê Trang Tông (1533-1548), ông tên thật là Lê Ninh, còn có tên khác là Lê Huyến, là vị hoàng đế đầu tiên của triều Lê Trung Hưng.
Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, giết hai vua Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng; một viên quan trung thành là Lê Quán đã đưa con của Lê Chiêu Tông là Lê Ninh đi trốn, sau đó tướng Nguyễn Kim tìm được, đưa sang đất Ai Lao (nước Lào ngày nay) tôn làm vua vào tháng giêng năm Qúy Tị (1533), mở đầu thời kỳ hỗn chiến Lê -Mạc (Nam-Bắc triều).
Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép ngắn gọn sự kiện lên ngôi của Lê Trang Tông ở nước ngoài như sau: “Vua là con của Chiêu Tông, cháu xa đời của Thánh Tông, mẹ là Phạm thị, tên húy là Ngọc Quỳnh, người sách Cao Trĩ, huyện Thụy Nguyên. Khi Đăng Dung cướp ngôi, tiếm hiệu, vua tránh về Thanh Hóa. Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim sai người dò tìm, đón vua sang nước Ai Lao tôn lập”.
Trong sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của triều Nguyễn viết về việc Nguyễn Kim lập vua Lê Trang Tông ở Ai Lao với nhiều nội dung hơn:
“Trước kia, khi Đăng Dung thí nghịch và tiếm ngôi, Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế ta (tức Nguyễn Kim - tác giả) lánh nạn sang ở tại châu Sầm Nưa thuộc Ai Lao, chiêu tập những người trung dũng, đầu tiên dựng lá cờ nghĩa, quyết chí diệt Mạc để khôi phục nhà Lê, bèn tìm khắp mọi nơi kiếm lấy cho cháu họ Lê, thì tìm được con nhỏ của Chiêu Tông là Ninh, lập làm vua, lên ngôi ở Ai Lao, đặt niên hiệu là Nguyên Hòa. Từ đó, hội gió mây lôi cuốn, tiếng chính nghĩa lẫy lừng, quân trẩy đến đâu chẳng ai là không hưởng ứng. Công nghiệp trung hưng nhà Lê thực bắt đầu từ đấy”.
Lê Dụ Tông thay đổi cách ra đề, trừ bỏ tiêu cực trường thi
Thời Lê Trung Hưng, về cơ bản vẫn kế tục nền giáo dục, thi cử như thời Lê sơ nhưng việc tổ chức thi không còn giữ được sự nghiêm túc dẫn đến tình trạng “Các học giả chỉ chuộng nắn nót từng câu, văn chương ngày càng kém cỏi, chỉ học thuộc lòng rồi theo đúng sách viết ra… Thơ phú, tứ lục đều chép theo bài cũ, không sợ giống nhau” ("Lịch triều hiến chương loại chí").
 |
| Long bào của vua Lê Dụ Tông |
Bấy giờ các quan trường thường dùng lại các đề có sẵn của các lần trước không thay đổi gì vì vậy có nhiều người làm bài sẵn mang bán để nho sinh học thuộc, thậm chí làm thành tài liệu đem vào trường thi sao chép, các quan chủ khảo cứ chấm theo đó để lấy đỗ. Kết quả không chọn được người thi có thực tài.
Chính vì vậy vào tháng 10 năm Tân Mão (1711), Lê Dụ Tông đã tìm cách bài trừ tình trạng này bằng quy định mới. Sử chép rằng:
“Theo lệ cũ, quan chấm thi nghĩ soạn sẵn, đề thi thường lấy trong Tứ thư và sử; về thể văn tứ lục không quá mươi bài; về thể phú không quá 4-5 bài, đều làm thành đề thi, không có sự thay đổi gì, gọi là “sách mẫu” (sư thư). Học giả nhiều kẻ soạn thành phiếu tóm tắt (thiếp quát) rồi chuyển cho nhau để bán chác, sĩ tử đi thi đua nhau tìm mua, học thuộc thể văn để lén đưa vào trường thi, y theo thế mà chép ra; quan chấm thi cứ tùy theo bài văn mà chọn lấy đỗ, không kể trùng lặp gì.
Cho nên việc lén đem văn vào trường hay nhờ người làm thay, tuy có lệnh cấm nghiêm ngặt nhưng vẫn xảy ra, mà những người trúng tuyển đại loại là hạng không có thực tài. Đến khoa này, triều đình mới ra lệnh cho các quan chấm thi không được noi theo lệ cũ. Thói xấu ở trường thi nhờ thế dần dần được sửa đổi” ("Đại Việt sử ký tục biên").
Gia Long đặt điểm trợ cấp cho người nghèo, kẻ ăn xin
Nhận thấy đất Bắc Hà (nay là miền Bắc Việt Nam), theo bản tấu trình của các quan trấn nhậm tâu về cho biết còn nhiều người dân lâm vào hoàn cảnh khó khăn, cùng cực cần phải giúp đỡ, vua Gia Long đã ngay lập tức thiết lập các điểm trợ cấp các đối tượng này.
Theo sách “Quốc sử di biên”, vào tháng 12 năm Nhâm Thân (1812), vua Gia Long cho “đặt điếm Đoàn Đầu ở chợ Đông của Bắc Thành (Hà Nội ngày nay- tác giả) làm điểm cấp dưỡng những kẻ ăn xin ở các trấn. Lại ban tiền kẽm ân tuất cho các phủ, huyện mỗi nơi 50 quan. Hễ lữ khách đi qua bị bệnh hoặc chết thì lấy tiền ấy cấp cho. Cứ cuối năm, làm sổ sách tâu lên. Cấp cho điếm Đoàn Đầu mỗi tháng một phương gạo, một quan tiền”.
Khải Định phong hàm tước cho “ông vua đường thủy” Bạch Thái Bưởi
Bạch Thái Bưởi, một thương nhân, một nhà tư sản dân tộc được nhiều người kính trọng, ngưỡng mộ vì đã ông khẳng định doanh tài nước Việt, từ hai bàn tay trắng vươn lên thành một doanh nhân kiệt xuất, là một trong “tứ đại gia” giàu có nhất Việt Nam đầu của thế kỷ XX. Tiếng tăm của ông khiến vua Khải Định cũng phải khâm phục.
 |
| Doanh nhân Bạch Thái Bưởi (1874- 1932) |
Vào tháng 11 năm Canh Thân (1920), trong một lần bàn việc với các quan bộ Lại, vua Khải Định than phiền về sự lạc hậu, kém cỏi của đất nước trong ngành “máy móc kỹ xảo” nên “việc gì cũng chỉ làm theo sau các nước”. Bấy giờ nghe tin về thành công của Bạch Thái Bưởi, vua lấy làm mừng rỡ cho là việc cần khen thưởng để khuyến khích nên truyền bảo như sau:
“Xem như việc Bạch Thái Bưởi ở Bắc Kỳ mới chế tạo được chiếc tàu thủy gọi là Bình Chuẩn rất khéo, tốt không thua kém gì công nghệ bên châu Âu. Chiếc tàu này là do tay thợ nổi tiếng Nguyễn Văn Phúc làm ra, cả chủ và thợ đều là người Nam cả.
Ngày 23 tháng 7 vừa qua, khi trẫm tới thăm quý Toàn quyền và thăm quan tàu chiến ở Đà Nẵng thì vừa gặp lúc tàu này cũng vừa cập bến vào cảng nên có may mắn được ngắm xem, quả nhiên tàu ấy là do chủ ta, thợ ta đồng lòng hợp sức mà chế tạo ra.
Nước ta vốn dĩ của ít, thợ vụng, nếu không có Bưởi dám bỏ tiền ra thì đâu có việc cho Phúc thi thố, mà không có tài khéo của Phúc thì tiền của Bưởi cũng thành uổng phí mà thôi. Hai người này đã nêu cao tấm gương về sự tiến bộ, văn minh cho người nước ta mai sau soi vào.
Vậy truyền chuẩn thưởng trao cho Bạch Thái Bưởi hàm Hàn lâm viện Thị độc, Nguyễn Văn Phúc hàm Hàn lâm viện Kiểm thảo để hai người được đội ơn mà càng thêm khích lệ phấn đấu hơn nữa” (Khải Định chính yếu).
Nếu xét theo thứ bậc hàm cấp trong quan chế phong kiến thì hai hàm này thuộc bên Văn giai (tức bên quan văn), theo đó hàm Hàn lâm viện Thị độc của Bạch Thái Bưởi thuộc Chánh ngũ phẩm, còn hàm Hàn lâm viện Kiểm thảo của Nguyễn Văn Phúc thuộc Tòng thất phẩm.
Lê Thái Dũng
VO13663();