Chủ Nhật, 10/12/2023
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

01/11/2023 14:13 254
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Thực tế không có một nền mỹ thuật (fine art) thuần túy ở thời Đông Sơn. Các tác phẩm mỹ thuật được tạo ra chỉ để treo tường, đặt bệ phục vụ thẩm mỹ gần như chưa có ở giai đoạn này…

1. Trong một loạt bài viết về mỹ thuật cổ đăng trên tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật  tôi đã từng đề xuất cực đoan rằng lịch sử mỹ thuật Việt Nam cơ bản là "mỹ thuật ứng dụng", tương tự quan niệm "mỹ thuật công nghiệp" hiện nay. Có nghĩa rằng, mọi sáng tạo mỹ thuật của nghệ nhân xưa đều gắn với việc làm đẹp một đồ dùng nào đó, chứ không phải là tạo ra một tác phẩm mỹ thuật độc lập, thuần túy.

Thẩm mỹ Đông Sơn phải hiểu là thẩm mỹ của đồ vật (kiểu dáng, hoa văn, độ bóng, màu sắc…). Tranh hay tượng Đông Sơn… đều gắn với làm đẹp cho một đồ vật cụ thể. Vì thế, bàn về chuyên đề người thợ vẽ, khắc hay tạo tượng Đông Sơn phải đặt đúng trong bối cảnh lịch sử đương thời và không thể tách rời với đồ vật mà vì nó nghệ nhân đã đầu tư tài năng và tư duy nghệ thuật làm đẹp cho chúng.
 
Nghệ thuật tượng khối Đông Sơn phát triển gắn với đồ dùng cụ thể. Tượng người làm cán dao găm và tượng người cưỡi voi sẽ được gắn lên một đồ đồng nào đó.
Và kỳ 1 loạt bài "Người Đông Sơn vẽ, nặn về người Đông Sơn" hôm nay sẽ tập trung đi sâu vào hình vẽ, tức những hình khắc, đúc nổi, dệt thêu, sơn vẽ… trên một bề mặt chất liệu đồng, gốm, xương sừng… mà hiện quen gọi là nghệ thuật 2D (hai chiều - two dimentions) có thể quan sát được trong sưu tập hiện vật Đông Sơn. Do đặc trưng bảo tồn chất liệu mà các hình khắc vẽ Đông Sơn 2D chủ yếu sẽ là các hình còn lại trên đồ đồng. Một tỷ lệ hiếm hoi quý giá trên đồ gốm, gỗ sơn then, xương sừng và vải sợi sẽ trình bày trong một vài bài cuối của loạt bài này.
Kiểm kê sơ bộ trong kho tư liệu, tôi thấy có khoảng gần 3.000 tiêu bản hình khắc vẽ trên đồ đồng Đông Sơn. Tạm thời loại ra gần 2.000 tiêu bản hoa văn hình học thì có tới hàng ngàn tiêu bản hoa văn người, chim, thú, thuyền, nhà… liên quan trực tiếp đến sinh hoạt của con người. Do khuôn khổ cũng như mục đích của chuyên mục này, tôi đã dành một phần khai thác hình chim, thú trong những chuyện kể trước. Từ nay, sẽ chỉ tập trung trong việc giới thiệu, mổ xẻ, phân tích khối hình vẽ liên quan đến sinh hoạt của con người mà thôi, để lột tả rõ chủ đề tư duy "Thợ Đông Sơn vẽ về người và cuộc sống con người Đông Sơn" thế nào.
Tư liệu hình vẽ Đông Sơn hầu hết là hình trang trí còn lại trên bề mặt đồ đồng đương thời. Vì thế thực tế là chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu hai vấn đề. Thứ nhất:  Dụng cụ, vật liệu sáng tác và quá trình ra đời mỗi "tác phẩm". Và thứ hai: Người thợ đã nghĩ gì, muốn thể hiện điều gì và họ có chịu chi phối bởi những nguyên tắc xã hội nào trong quá trình tạo hình của mình hay không?
"Kiểm kê sơ bộ trong kho tư liệu tôi thấy có khoảng gần 3.000 tiêu bản hình khắc vẽ trên đồ đồng Đông Sơn. Tạm thời loại ra gần 2.000 tiêu bản hoa văn hình học thì có tới hàng ngàn tiêu bản hoa văn người, chim, thú, thuyền, nhà… liên quan trực tiếp đến sinh hoạt của con người" - TS Nguyễn Việt.
2. Vấn đề thứ nhất mang thuần túy ý nghĩa kỹ thuật. Gần như 100% hiện vật đồng Đông Sơn được tạo ra bằng kỹ thuật đúc. Rất hiếm thấy kỹ thuật gò đồng, ngoại trừ khi chế tạo những hiện vật như lưỡi câu, trâm cài đầu…
Có ba kiểu tạo khuôn thường thấy trong thời Đông Sơn liên quan đến việc hình thành các cách trang trí 2D trong lòng các khuôn đó. Kiểu khuôn thứ nhất là khuôn ốp mẫu, thường thấy trong nghệ thuật tạo tượng, hình khối 3D nhỏ, khó tạo khuôn đa mang. Kiểu khuôn thứ hai là khuôn 1 mang. Ở kiểu khuôn này, hiện vật chỉ tạo hình một nửa còn nửa kia để hở. Đồng rót xong, hiện vật có một mặt lên hình trang trí, mặt kia phẳng. Còn kiểu thứ ba rất phổ biến, là kiểu đúc hai hay ba mang. Đúc hai mang dùng cho các hiện vật cân xứng như rìu, giáo, qua, dao găm, nồi… Loại khuôn này có thể làm bằng đất nung, đá, thường có một lõi và hai mang ốp hai bên. Khi rót đồng vào khuôn để nguội, sẽ rỡ hai mang ra, khuôn có thể dùng lại nhiều lần.
 
Các hình khắc chìm nổi trên khuôn rìu chiến hai mang có tạo hình sâu, rất sinh động
Riêng loại khuôn ba mang thường dùng cho loại đồ đựng có đế như thạp, thố đồng và trống đồng. Thảng hoặc, có kiểu khuôn ba mang dùng cho đúc mũi tên ba cạnh như kiểu khuôn đá đúc tên đồng ba cạnh Cổ Loa.
Các hình khắc, vẽ Đông Sơn chủ yếu phát hiện trên sản phẩm đúc từ dạng khuôn 2, 3 mang.  Khi đó, thợ khắc vẽ sẽ trổ tài trực tiếp trên lớp đất mịn lót trong khuôn. Bề mặt đất lót trong khuôn trở thành mặt "toan" nền cho thợ khắc vẽ tạo hình. "Bút vẽ" của họ sẽ là những vật nhọn, dao tảy, tỉa bằng tre nứa, gỗ, hay kim loại.
Qua thực nghiệm thì lao động của thợ khắc vẽ trang trí trên lớp lót trong của khuôn khá lớn và giá trị lao động cao. Thông thường họ chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình tạo khuôn đúc. Phần việc còn lại chỉ là của thợ nấu đồng và rót khuôn, dỡ khuôn mà thôi.
 
Hai mặt của rìu chiến khuôn hai mang
Kết quả việc vẽ khắc trang trí trên bề mặt lõi khuôn đương nhiên là để tạo ra các tác phẩm "âm bản" ngược với các hình "dương bản" mà người sử dụng đồ vật mong muốn. Kiểu hình khắc đơn giản, dễ làm nhất là dùng bút đầu nhọn "vẽ" thẳng vào mặt phẳng bên trong khuôn. Các đường nét khắc chìm đó sẽ trở thành đường gờ nổi tạo hình trên bề mặt hiện vật đồng sau khi đúc. Ở nhiều trống đồng, kiểu khắc vẽ này được dùng trên tang và thân là những vị trí có mặt phẳng tạo hình có độ cong khó vẽ.
 
Thợ vẽ âm bản trống Đông Sơn ngày nay
Kiểu khắc vẽ phức tạp hơn thường thấy trên mặt trống đồng cao cấp, như Ngọc Lũ, Cổ Loa, Hoàng Hạ… Tại đó, nhờ diện trang trí phẳng, rộng, thợ khắc vẽ có thể tạo đường nét dạng phù điêu để tạo hình bề mặt 2D có chỗ nổi cao, chỗ chìm xuống, rất dễ nhìn khi có ánh sáng chiếu xiên. Giá trị lao động nghệ thuật của kiểu khắc chìm nổi này tăng gấp nhiều lần kiểu khắc rạch đơn giản.
 
Bản vẽ dương bản trống Đông Sơn ngày xưa
3. Khảo cổ học Đông Sơn đã đặt ra yêu cầu đánh giá giá trị hiện vật để giúp việc phân định giàu nghèo đồ tùy táng trong các khu mộ. Trong xã hội cổ xưa như Đông Sơn, nghệ nhân tạo hình đầu tiên như các đề tài, bố cục, đồ án trên mặt trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Hợp Minh, Sông Đà… để khiến toàn xã hội chấp nhận và tuân theo thường có vị trí rất cao. Thư tịch Trung Hoa từng ghi nhận vị trí tới hàng tể tướng nước Sở dành cho một thợ cả đúc đồng đương thời.
 
Trang trí trên vải Đông Sơn
Như vậy, chúng ta bắt đầu "mon men" đến vấn đề thứ hai, tức động chạm tới khả năng sáng tạo trong tạo hình của nghệ nhân Đông Sơn. Bên cạnh những tạo hình đơn lẻ về chim, thú, thuyền, nhà… nghệ nhân Đông Sơn còn đứng trước thử thách xã hội là tạo ra những biểu trưng mang tính tâm linh, trong đó mỗi nhân vật cụ thể của xã hội bình thường, của thế giới linh thiêng đạt được sự chấp thuận mang tính quy ước thống nhất cộng đồng cao.
Tôi sẽ phân tích nhiều và kỹ về chủ đề đày phức tạp, nhưng cũng rất hấp dẫn này trong kỳ 2, tuần tới.  
Điều gì làm nên giá trị của đồ đồng Đông Sơn?
Giá trị đồ đồng không chỉ ở khối lượng đồng, dù thực tế đã có nhà nghiên cứu cổ kinh tế - giáo sư Nguyễn Duy Hinh, từng ước tính phải khai thác, vận chuyển, nấu 1,6 tấn đất đá quặng để có được một kilogram đồng nguyên chất. Hơn thế, nó còn nằm ở giá trị thời gian của nghệ nhân đầu tư cho các hình khắc vẽ trên bề mặt khuôn đúc. Thực nghiệm đúc trống Sông Đà vừa qua của chúng tôi cho thấy, công thợ tạo khuôn và trang trí trên khuôn chiếm tới 60% giá trị công đúc trống. 40% còn lại thuộc về nguyên liệu, lò nấu và thương mại. (Còn tiếp)

TS NGUYỄN VIỆT

https://thethaovanhoa.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 3428

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Nam hay nữ quyền trong thời kỳ Đông Sơn? (kỳ 4 & hết): Chuyển đến nam quyền tuyệt đối

Nam hay nữ quyền trong thời kỳ Đông Sơn? (kỳ 4 & hết): Chuyển đến nam quyền tuyệt đối

  • 27/10/2023 10:59
  • 242

Xu hướng phụ hệ và nam quyền trở lên thống trị xã hội ở các vùng đồng bằng miền Bắc Việt Nam diễn ra sớm hơn theo chiều từ Bắc xuống Nam. Chiều hướng này có vẻ liên quan đến các làn sóng nam tiến từ các cộng đồng xã hội trống lúa vùng sông Dương Tử (sông Trường Giang - Trung Quốc) xuống từ khoảng đầu thiên niên kỷ 2 trước Công nguyên.