Thứ Tư, 22/07/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

18/06/2026 09:24 1492
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Tôi thường nghĩ đến sự may mắn của nhà khảo cổ khi chúng tôi bắt gặp ngôi mộ một thợ cả ngành "quân khí" thời Đông Sơn trong đợt khai quật giải phóng mặt bằng Làng Cả (Việt Trì, Phú Thọ) năm 1977.

Trước mắt chúng tôi là một huyệt mộ hình chữ nhật chứa đất mùn đen, nổi bật giữa nền đất đồi nâu đỏ. Không ai biết rằng đó là một mộ chủ rất quan trọng - thợ cả đúc vũ khí đồng Đông Sơn, người có vị trí quan trọng trong xã hội đương thời.

1. Làng Cả khi đó là một vùng đồi thấp sát đường quốc lộ thuộc xã Chính Nghĩa, nơi đã bàn giao mở rộng cho nhà máy mì chính Việt Trì. Trong quá trình san gạt đã xuất lộ hàng trăm huyệt mộ và đồ tùy táng Đông Sơn. Công trường san gạt buộc phải dừng lại cho khảo sát khảo cổ học. Tôi được lãnh đạo viện phân công cùng Nguyễn Đình Chiến lên khảo sát và khai quật "chữa cháy" di tích này.
Người tiếp đón và phối hợp với chúng tôi khi đó là anh Lê Tượng, Trưởng Phòng Bảo tàng và Quản lý di tích Sở Văn hóa tỉnh, (khi đó là tỉnh Vĩnh Phúc). Anh Tượng từng là cán bộ cử đi học, cùng khóa với tôi, sau là người phụ trách khu di tích Đền Hùng cho đến khi nghỉ hưu. Anh vừa qua đời mấy tháng trước ở tuổi 90.
 
Giáo thuộc sưu tập CQK trong bài này
Buổi "rì rầm" hôm nay tôi không kể nhiều về Làng Cả - một di tích khảo cổ học quan trọng, đã được xếp hạng cấp quốc gia - mà chỉ nhắm đến ngôi mộ người thợ cả đúc đồng với vai vế rất đặc biệt trong "làng". Chúng tôi dễ dàng nhận ra ông nhờ bộ đồ nghề mà con cháu đã chôn theo: khuôn đúc rìu chiến bằng đất nung, xỉ đồng, hàng chục ngọn giáo còn mới...
So với các huyệt khác, huyệt mộ của thợ cả này được đào sâu rộng hơn một chút. Nhờ đất đen - tầng văn hóa của một ngôi làng cổ có trước khu mộ đã được dùng lấp mộ sau khi những người đào mộ khoét huyệt sâu vào sinh thổ đất đồi - có thể nhận thấy phần còn lại của lòng mộ rộng nhất 90 cm, sâu khoảng 80 cm. Xương cốt đã mủn hoàn toàn, chỉ còn vài đồ gốm và đồ đồng chôn theo.
 
Đặc tả cảnh hổ vồ rái cá trên giáo (CQK)-Gi.A.09
Đặc trưng khuôn đúc rìu chiến hình mũi hài và hàng chục mũi giáo kiểu Đông Sơn sông Hồng điển hình cho ta nguyên trạng một chủ nhân Đông Sơn rất chuẩn mực, không pha trộn. Tôi luôn suy nghĩ, liệu ông có lập xưởng đúc chế đồ đồng thương mại, như cách mấy xưởng rèn miền núi chế đồ sắt mỗi phiên mang ra chợ bán? Không loại trừ lối sống phổ biến này thời bình, với những khí cụ thông dụng. Nhưng với vũ khí, tôi nghiêng nhiều về những đơn đặt hàng mang tính cá nhân - đặc biệt là những vũ khí chuyên biệt được trang trí, phù phép cầu kỳ.
2. Chỉ riêng về giáo đồng, khi chỉnh lý sưu tập Đông Sơn CQK (California, Mỹ), trong số hàng trăm mũi giáo Đông Sơn các loại, tôi chú ý đến năm mũi giáo lớn, trang trí đẹp, thuộc năm phong cách khác nhau. Trong đó có bốn giáo tôi từng thấy - từng chi tiết trang trí - đã bắt gặp lặp lại hiếm hoi ở một số sưu tập Đông Sơn khác, và một mũi chỉ thấy lặp lại phong cách trang trí trên một rìu chiến đặc biệt kiểu sông Mã trong một sưu tập tư nhân ở Hà Nội. Tôi muốn diễn giải chủ đề "thợ quân khí" Đông Sơn bằng cách dõi theo 5 tuyến giáo kể trên trong sưu tập CQK.
 
Chi tiết hoa văn trên giáo (CQK)-A.02
Trước tiên, tôi muốn nói đến mũi giáo ký hiệu (CQK)-Gi.A.09. Mũi giáo dài 42 cm, rộng 7 cm, rộng họng ngoài 3 cm, trong 2,5 cm. Giáo làm theo phong cách hai cánh lượn vào, tạo hình thoi lớn cân ở phần tiếp với đốc họng. Tại đây, ở mỗi bên cánh, cả hai mặt là một đồ án khắc chìm, nội dung "hổ vồ rái cá", tạo hình khối lượn theo dáng thoi phình lớn nhất. Đây là một đồ án khá hiếm gặp, mang tính cá nhân rất cao.
Chiếc giáo thứ hai, ký hiệu (CQK)-Gi.A.02, nhỏ hơn chiếc trên, dài 30 cm, rộng cánh 6 cm, tạo dáng theo phong cách sông Mã. Trên hai cánh giáo ở cả hai mặt phủ kín đồ án trang trí khắc chìm. Nội dung chính đặt ở nơi có diện tích rộng nhất trên cánh giáo: hai người đội mũ cao múa tay, ngồi trên hai vật hình trống đồng. Trên đầu là hai hình hổ nằm phủ phục, đầu quay về họng giáo. Nửa mũi nhọn của mũi giáo, mỗi bên là cảnh đối đầu của cặp hươu và cá sấu. Đuôi hai cá sấu vuốt theo đầu nhọn của mũi giáo.
 
Đặc tả hoa văn trên giáo (CQK)-Gi.A.07
Đây cũng là đồ án trang trí tôi chưa gặp lại lần thứ hai. Gần đây, trên mũi giáo mang hình chân dung thần hộ mệnh Đông Sơn vớt được ở Ngã Ba Đụn (Thủy Nguyên, Hải Phòng), tôi nhận ra sự lặp lại của mô típ hình thú ngồi trên mặt trống.
Chiếc giáo thứ ba, ký hiệu (CQK)-Gi.A.07, dài 33 cm, rộng cánh 6 cm, thuộc loại bản lưỡi hình tam giác, mang hơi hướng kiểu giáo có cánh hình mũi tên mà tôi đã từng đề cập đến. Mũi giáo này không có phần cánh én xòe ra mà lượn cong thu lại, tạo bản lưỡi hình tam giác cân. Điều khác biệt là ở hình đúc chìm hai con giao long đối xứng nhau, miệng há hướng về đầu mũi nhọn như đuổi đớp sáu con chim (hay cá) rải đều ở phía mũi giáo.
Chiếc giáo thứ tư, ký hiệu (CQK)-Gi.A.06, dài 26 cm, rộng 5,5 cm, hình dáng búp đa, nhỏ gọn, khá đơn điệu. Điều đặc biệt là ở thành phần hợp chất độc đáo, đúc rót theo kiểu "kẹo lạc", có gốc gác từ nhóm Đông Sơn Tây Âu, ảnh hưởng văn hóa Ba Thục. Các viên kim loại khác nhau như bạc, vàng, thiếc, chì... được đổ vào nồi nấu đồng nóng chảy, rót ngay vào khuôn, khiến các miếng kim loại kia mới chỉ kịp nóng chảy hỗn trộn phần vỏ bên ngoài, còn phần lõi tuy mềm, chảy nhưng vẫn khá nguyên chất. Kiểu đúc "đa khí" này tạo ra loại đồng có nhiều màu sắc khác nhau. Với những tính toán khoa học, sẽ tạo độ cứng và sắc khác nhau trên thân giáo. Cả hai mặt lẫn hai cánh là đàn sáu hươu kinh điển kiểu Tây Âu, đầu hướng về phía mũi nhọn.
 
Chi tiết hoa văn trên giáo (CQK)-Gi.A.01
Chiếc cuối cùng dành cho hôm nay là chiếc ký hiệu (CQK)-A.01. Giáo này mang dáng lai giữa giáo sông Hồng và giáo sông Mã. Đồ án trang trí đúc nổi dày đặc ở hai mặt và hai bên cánh giáo, với nội dung bốn hươu bám đuôi nhau, đầu hướng về mũi nhọn. Đây là kiểu trang trí hiếm gặp. Năm 2017, tôi bắt gặp chiếc rìu chiến kiểu sông Mã mang đồ án trang trí kiểu này, giúp tôi xác nhận giáo này thuộc nhóm Đông Sơn sông Mã.
3. Lần theo năm mũi giáo kể trên, tôi càng tin tưởng tính cá nhân rất cao ở vũ khí Đông Sơn. Có nghĩa rằng, những thợ cả đúc đồng Đông Sơn luôn nhận được những đơn đặt hàng riêng biệt, của những thủ lĩnh hay quý tộc riêng biệt, gắn với từng mối tâm linh và ước nguyện cá nhân của người đặt hàng - những người sẽ mang cả niềm tin đó vào các trận chiến trong tương lai.
"Những thợ cả đúc đồng Đông Sơn luôn nhận được những đơn đặt hàng riêng biệt của những thủ lĩnh hay quý tộc, gắn với từng mối tâm linh và ước nguyện cá nhân"- TS Nguyễn Việt.

TS Nguyễn Việt

https://thethaovanhoa.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 7308

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Văn hóa Đông Sơn - Chiến tranh và Hòa bình (kỳ 33): Trở lại tục “tị ẩm” Đông Sơn

Văn hóa Đông Sơn - Chiến tranh và Hòa bình (kỳ 33): Trở lại tục “tị ẩm” Đông Sơn

  • 08/06/2026 16:17
  • 1827

Trong Hội nghị "Hùng Vương dựng nước" lần thứ 3, năm 1971, giáo sư Đặng Nghiêm Vạn đã khiến cả hội nghị sửng sốt trước thông tin về hiện tượng uống bằng mũi của người Mảng, gắn với ghi chép về tục "tị ẩm" trong truyền thuyết thời Hùng Vương. Bài viết có sử dụng tư liệu và hình ảnh của các đồng nghiệp như Nguyễn Duy Thiệu và sưu tập CQK. Đây là một ghi chép rất ngắn ngủi được tác giả Lĩnh Nam trích quái chép lại khi nói đến phong tục thời Hùng Vương. Theo đó, việc có một số dân tộc thiểu số hiện sinh sống ở nước ta vẫn duy trì việc đưa dung dịch như rượu, nước gia vị cay… qua đường mũi, như một dạng "ẩm thực" kỳ lạ.